DU HỌC SINH VỚI VẤN NẠN THẤT NGHIỆP

Anh bạn Hoàng Sơn một du học sinh sau 2 năm Du học tại Úc về nước với tấm bằng thạc sĩ kinh tế trong tay đã tâm sự: “Khi nộp hồ sơ ứng tuyển vào một vị trí ở Cảng Đà Nẵng nhưng hồ sơ của anh bất ngờ bị từ chối với lý do: phần kiểm tra kiến thức về Cảng biển Tiên Sa anh đã thiếu hiểu biết tối đa về nó, điều này xem ra vô cùng phi lý nhưng nhà tuyển dụng đã loại trừ anh”.

Thất nghiệp là tình trạng mà chính tôi đang chịu đựng, tôi muốn có việc làm nhưng không tìm được công việc hợp chuyên môn. Tôi đang sống ở nông thôn và làm những công việc thuộc lĩnh vực nông nghiệp, công việc chiếm ít thời gian và mặc dù sống cảnh thiếu việc làm, tình thế của tôi chưa bị coi là vấn đề nghiêm trọng.

Mong muốn được làm việc ở gần nhà, song tôi vẫn chấp nhận công tác tại các tỉnh thành lân cận như Đà Nẵng, Tam Kỳ, Huế, Quy Nhơn, thậm chí Sài Gòn hoặc Hà Nội để mở rộng cơ hội việc làm. Hàng ngày, tôi liên tục vào các trang tìm việc làm viết hồ sơ, gửi đến cả hàng chục bộ hồ sơ qua mạng vẫn chưa tìm được việc.

Trở lại trường hợp của Hoàng Sơn với 4 năm theo học Đại học kinh tế ở Sài Gòn và ba năm công tác ở Ủy ban Nhân Dân Quận, cùng 2 năm du học tại một quốc gia có nền giáo dục tiên tiến trở về nước vẫn thất nghiệp. Tất nhiên sau đó Hoàng Sơn cũng tìm được một công việc khác không đòi hỏi có kiến thức về cảng biển, nhưng khi kể lại kỷ niệm của lần ứng tuyển này, anh vẫn tiếc nuối bởi khi về Việt Nam, anh chỉ hy vọng với khả năng của mình có thể tìm được một công việc tốt để phục vụ cho sự phát triển của nước nhà. Vậy mà người ta từ chối hồ sơ của anh chỉ vì một nguyên tắc cứng nhắc. Sau lần đó anh thực sự sốc vì bao nhiêu công sức học hành để lấy được tấm bằng thạc sĩ bên Úc bây giờ về nước lại thất nghiệp. Anh phải trở lại với công việc ở Ủy ban Nhân Dân Quận không đúng chuyên ngành của một thạc sĩ kinh tế.

 

Có nhiều trường hợp các du học sinh sau 5,7 năm du học nước ngoài trở về, cầm tấm bằng thạc sĩ, thậm chí phó tiến sĩ, tiến sĩ trên tay, những tưởng mình sẽ có ngay một công việc sáng giá, mình sẽ có một chỗ đứng cao hơn những đồng nghiệp có bằng cấp tương đương trong nước nhưng tiếc thay mọi thứ bỗng đảo lộn đến nực cười. Có người chưa kịp trải nghiệm, thực tế đã sốc vì đồng lương bèo bọt, có người ê chề ngay từ điểm khởi đầu vì không thể nào áp dụng những gì mình học được vào thực tế công việc, và rồi do không sử dụng hết kỹ năng mình có, họ cảm thấy mình dư thừa và bỏ việc, nhảy việc. Những thiệt thòi cá nhân bắt đầu nảy sinh.

Một Du học sinh được cử đi Nga du học chuyên ngành Marketting sau 7 năm trở về nước và được nhận vào làm cho một doanh nghiệp nhà nước với mức lương được hưởng là 3,2 triệu/tháng (tương đương 150USD/tháng) khiến anh vô cùng chán nản và nghỉ việc trong tuần đầu tiên. Anh chua chát nói: “một công nhân 18 tuổi, trình độ tiểu học làm việc ở khu công nghiệp cũng được trả đồng lương tương đương”.

Không có việc làm đồng nghĩa với hạn chế giao tiếp với những người lao động khác, tiêu tốn thời gian vô nghĩa, không có khả năng chi trả, mua sắm vật dụng thiết yếu cũng như các hàng hóa tiêu dùng. Yếu tố sau là vô cùng trầm trọng cho người gánh vác nghĩa vụ gia đình, nợ nần, chi trả chữa bệnh.

Theo một số quan điểm, rằng người lao động nhiều khi phải chọn công việc thu nhậpthấp (trong khi tìm công việc phù hợp) bởi các lợi ích của bảo hiểm xã hội chỉ cung cấp cho những ai có quá trình làm việc trước đó. Về phía người sử dụng lao động thì sử dụng tình trạng thất nghiệp để gây sức ép với những người làm công cho mình (như không cải thiện môi trường làm việc, áp đặt năng suất cao, trả lương thấp, hạn chế cơ hội thăng tiến, v.v..). Cái giá khác của thất nghiệp còn là, khi thiếu các nguồn tài chính và phúc lợixã hội, cá nhân buộc phải làm những công việc không phù hợp với trình độ, năng lực. Như vậy thất nghiệp gây ra tình trạng làm việc dưới khả năng. Những thiệt thòi khi mất việc dẫn đến trầm uất, suy yếu ảnh hưởng của công đoàn, chấp nhận thù lao ít ỏi hơn… Cuối cùng, tình trạng thất nghiệp sẽ khiến cán cân đàm phán điều kiện lao động nghiêng về giới chủ doanh nghiệp, tăng chi phí khi rời công việc và giảm các lợi ích của việc tìm cơ hội thu nhập khác.

 

Trường hợp Cựu du học sinh Bùi Văn Minh, tốt nghiệp Trường ĐH California (Mỹ) sau nhiều năm làm việc tại một công ty phần mềm ở Mỹ đã nuôi ý định về Việt Nam làm việc để cống hiến cho quê hương. Thế nhưng khi trở về dự án của Minh lại thất bại hoàn toàn bởi những kiến thức Minh học được, thậm chí đang làm rất tốt ở Mỹ lại chưa thể làm được ở Việt Nam. Khi hỏi ý kiến của chuyên gia và những người trong nghề, nhiều người nói rằng lý do anh không bán được hàng ở Việt Nam, vì phần mềm bán hàng của anh chưa phù hợp với thói quen thanh toán online của người Việt.               

Người thất nghiệp dễ ở trong tình trạng mình là người thừa tuy nhiên sự tác động lại khác nhau giữa hai giới. Ở phụ nữ nếu không có việc làm ngoài thì việc nội trợ và chăm sóc con cái vẫn có thể được chấp nhận là sự thay thế thỏa đáng, ngược lại ở nam giới, đem thu nhập cho gia đình gắn chặt đến giá trị cá nhân, lòng tự trọng. Nam giới khi mất việc làm thường tự ti, rất nhạy cảm và dễ cáu bẳn, họ có thể tìm đến rượu, thuốc lá để quên đi buồn phiền. Họ cũng dễ bị rối loạn tâm lý như chán đời, mất ngủ, trầm cảm và như đã nói ở trên đôi khi còn dẫn đến hành vi tự sát.

 

Một Du học sinh ở Úc thất nghiệp hàng ngày vẫn đi bưng bê, quét dọn, lau chùi,… để kiếm tiền trang trải sinh họat phí. Về Việt Nam sĩ diện hão, không mấy người dám làm một lao động phổ thông. Ngồi nhà ăn bám, xin tiền bà nội, bà ngoại ăn vặt, uống cà phê, bịt kín mặt mũi khi ra đường, trốn lì trong phòng khi nhà có khách vì xấu hổ.

Có thể thấy, giữa cơn bão thất nghiệp chung của cử nhân, thạc sĩ trong nước, một số lượng không nhỏ du học sinh khi trở về nước cũng lâm vào tình trạng thất nghiệp kéo dài là một thực tế đáng buồn hiện nay.

Tuy nhiên, Du học sinh thất nghiệp không phải vì họ đi Du học mà là do bản thân họ xa rời thực tế, ảo tưởng về mức lương hay chưa hòa nhập được với môi trường làm việc trong nước, hoặc bị những kẻ xấu chơi ganh ghét, loại trừ. Vì lẽ đó, trong tình hình nền giáo dục trong nước còn nhiều bất cập như hiện nay, nhưng du học vẫn là con đường mà nhiều người mơ ước và lựa chọn. “Tị nạn giáo dục” là khẩu hiệu chung của du học sinh. Vấn đề ở chỗ bản thân du học sinh có nỗ lực để giành được tấm bằng đại học hoặc bằng cấp nào đó sau khi học ở những ngôi trường danh giá trên thế giới và lúc trở về quê nhà có tìm một công việc sao cho xứng đáng với tấm bằng đó hay không mà thôi.

 

Lê Thu Thùy

Báo Úc sưu tầm

Facebook Comments

DU HỌC SINH VỚI VẤN NẠN THẤT NGHIỆP
Đánh giá bài viết